Tên tiếng Việt: Dây săng máu

Tên khoa học: Celastrus paniculatus Willd.

Họ: Celastraceae

Công dụng: Chữa phong thấp, bại liệt, sốt rét, còn có tác dụng kích thích và phấn dương (Hạt). Thuốc gây sảy thai (Vỏ).

A. Mô tả cây Dây săng máu: 

  • Dây leo to. Cành non hình tròn, màu xám sẫm hoặc màu nâu, có lông và những chấm trắng. Lá thuôn, xoan hay xoan thuôn gần tròn hay gần như nhọn ở gốc, có mũi nhọn ngắn và tù; có răng, dai. Hoa thành chùm hay chuỳ ở ngọn, dài 5-10cm. Quả nang gần hình cầu, kèm theo các lá đài và vòi nhuỵ tồn tại, dài 4-6mm, có 3 van nâu, gần như nhẵn. Hạt 3-6, bao phủ bởi áo hạt màu đỏ, dài 3,5-4mm, rộng 2-2,5mm, có vỏ dai và nội nhũ dày.
  • Mùa hoa quả: Tháng 5 – 8
Có thể bạn quan tâm đến:   Công dụng và cách dùng dược liệu: Dứa dại

B. Phân bố, sinh thái Dây săng máu: 

  • Loài phân bố ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Campuchia, Lào, Malaixia, Inđônêxia, Philippin và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc ở Lâm Đồng, Đồng Nai.
  • Cây thường mọc ở ven rừng thứ sinh độ cao từ 800 đến 1300m; rụng lá vào mùa khô và sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm. Những cây lớn có lượng hoa quả rất nhiều; hoa tự thụ phấn hay nhờ côn trùng; nhân giống tự nhiên chủ yếu bằng hạt. Cây trồng bằng hạt hay bằng cách vít cành (cho ra rễ sau tách khỏi cây mẹ) đều sinh trưởng, phát triển tốt.

C. Bộ phận dùng Dây săng máu:

Vỏ, hạt. Còn dùng lá.

D. Thành phần hoá học Dây săng máu:

Khi chưng cất khô, hạt sẽ cho một chất dầu màu vàng đo đỏ, vị chát và cay, sau một thời gian sẽ cho một lượng chất béo đặc. Áo hạt chứa 30% chất mỡ nửa đặc, 0,15% phytosterol là celasterol và một chất nhựa có màu. Người ta còn chiết được 2 alcaloid là celastrine (0,0015%) và paniculatine. Lá chứa dulcitol.

Có thể bạn quan tâm đến:   Công dụng và cách dùng dược liệu: Tơ mành

E. Tính vị, công năng Dây săng máu:

Hạt đắng, nhuận tràng, gây nôn, kích thích và kích dục.

F. Công dụng Dây săng máu:

  • Dầu hạt dùng để thắp sáng, làm xà phòng và cũng dùng trong y học dân gian ở một số nơi. Hạt được dùng ở Ấn Độ, cả uống trong lẫn xoa bóp ngoài để trị bệnh thấp khớp, thống phong, bại liệt, phong cùi, sốt rét. Người ta bắt đầu từ 1 hạt và nâng dần lên đến 50 hạt. Để trị bệnh beri beri (bệnh tê phù) người ta chế một chất dầu có mùi khét bằng cách chưng cất trong một bình chứa hạt Dây gối với An tức hương, Đinh hương, Nhục đậu khấu, với liều 8-15 giọt, nó tạo nên một chất kích thích mạnh và làm toát mồ hôi.
  • Có nơi lá cũng được sử dụng như là thuốc giải độc thuốc phiện. Vỏ cây được dùng gây sẩy thai.
  • Ở Philippin, nhựa cây được xem như thuốc giải độc các ngộ độc do thuốc phiện. Hạt được dùng ngoài làm thuốc đắp và dùng trong làm thuốc uống trị thấp khớp và bại liệt.
Có thể bạn quan tâm đến:   Công dụng và cách dùng dược liệu: Dây đồng tiền