Borassus flabellifer L- công dụng Thốt nốt, Thốt lốt có phải là thông tin bạn đang quan tâm tìm hiểu? Website duoclieuvietnam.org sẽ giới thiệu cho bạn những thông tin mới nhất chính xác nhất về Borassus flabellifer L- công dụng Thốt nốt, Thốt lốt trong bài viết này nhé!

Một số thông tin dưới đây về Borassus flabellifer L- công dụng Thốt nốt, Thốt lốt:

Borassus flabellifer L- công dụng Thốt nốt, Thốt lốt

Tên Tiếng Việt: Thốt nốt, Thốt lốt

Tên khoa học: Borassus flabellifer L.

Họ thực vật: Arecaceae

Công dụng: Lợi tiểu, hạ nhiệt, giải độc, tẩy giun, đay bụng do sốt rét, sốt sưng lá lách; Nhựa nhuận tràng, giải độc strychnin. Cây non làm thuốc lợi tiểu, tiêu viêm, chữa vàng da, lỵ.

Có thể bạn quan tâm đến:   Công dụng, cách dùng Bầu đất | Trang thông tin dược liệu, cây thuốc vị thuốc Việt Nam

Phân bố: Cây trồng ở các tỉnh đồng bằng Nam bộ.

Mùa hoa quả: Quanh năm.

Chi tiết thông tin cho Borassus flabellifer L- công dụng Thốt nốt, Thốt lốt…

Công dụng, cách dùng Thốt nốt

Tên tiếng Việt: Thốt nốt, Thốt lốt

Tên khoa học: Borassus flabellifer L.

Họ: Arecaceae (Cau)

Công dụng: Lợi tiểu, hạ nhiệt, giải độc, tẩy giun, đay bụng do sốt rét, sốt sưng lá lách; Nhựa nhuận tràng, giải độc strychnin. Cây non làm thuốc lợi tiểu, tiêu viêm, chữa vàng da, lỵ.

Hình ảnh cây Thốt nốt

A. Mô tả cây 

Cây thân cột, chia thành từng khoanh, có thể cao tới 30m, trên ngọn có một tán lá xoè rộng. Lá có cuống dài, mặt lá màu xanh đậm, bóng mỡ trông tựa tàu lá cọ. Cụm hoa là những bông mo, đực, cái khác gốc. Bông mo đực to hơn, phân nhánh nhiều hơn. Quả thốt nốt to, tròn như quả dừa, nhưng bên trong đặc, trong suốt thường chứa ba nhân cứng, dẹt, đầu co một lỗ thủng.

Có thể bạn quan tâm đến:   Sansevieria trifasciata Prain- công dụng hổ vĩ mép lá vàng - Trang thông tin dược liệu, cây thuốc vị thuốc Việt Nam

B. Phân bố, thu hái và chế biến 

  • Cây thốt nốt trồng phổ biến ở miền Nam nhiều nhất ở Tây Ninh đến Đồng Tháp, Kiên Giang. Ngoài ra còn thấy trồng ở Cămpuchia, Lào. Tại Cămpuchia người ta trồng thốt nốt ở quanh nhà, góc vườn, dọc đường đi. Cây chịu cả khô hạn và úng ngập. Trồng bằng hạt, sống lâu hàng trăm năm, khi cây 15-20 tuổi bắt đầu ra quả. Tại Ấn Độ, người ta trồng thốt nốt trên quy mô lớn: Mỗi tỉnh đủ sản xuất 15 tấn đường thốt nốt một năm. Thốt nốt được trồng chủ yếu làm nguyên liệu chế đường rượu, một số ít được dùng làm thuốc. Những bộ phận được dùng làm thuốc bao gồm cuống cụm hoa. Đường thốt nốt là dịch chảy từ cụm hoa, cây non, rễ.
  • Khi thốt nốt ra hoa vào chiều tối, người ta buộc ống vào đầu cụm hoa, sau khi đã cắt một đoạn đầu hoa, bằng ngón tay. Để suốt một đêm, thu được chừng một lít nước thốt nốt. Nước thốt nốt lấy ban đêm ít chua, vị ngọt rất thơm, ủ với men nhẹ được thứ rượu nhẹ như bia, dùng men nặng hơn sẽ được rượu nặng. Cây thốt nốt đã lấy được nước thì không cho quả nữa. Quả thốt nốt non ăn mát như thạch. Quả già có màu vàng thơm, mùi mít chin, nếu giã ra lọc sẽ được thứ bột dẻo, trắng như bột nếp. Nhiều nơi đợi quả già, giã lấy bột làm bánh tôm, bánh ú hoặc nấu chè. Một cây thốt nốt cho từ 20-30 quả, đặc biệt có những cây 50-60 quả. Cây đực không có quả, không có nước, nhưn…
Có thể bạn quan tâm đến:   Cucurbita moschata- công dụng Bí đỏ( bí ngô) - Tra cứu dược | Trang thông tin dược liệu, cây thuốc vị thuốc Việt Nam

Chi tiết thông tin cho Công dụng, cách dùng Thốt nốt…

Cây dược liệu cây Thốt lốt, Thốt nốt – Borassus flabellifer La | Y Dược Học Việt Nam

Theo Đông Y Rễ cây có vị hơi ngọt, tính bình; có tác dụng giải nhiệt, hồi phục sức, cây non lợi tiểu, tiêu viêm. Dịch cây lợi tiểu, kích thích và tiêu viêm. Thịt quả làm nhầy và bổ dưỡng. Cuống cụm hoa có tác dụng lợi tiểu, trừ giun. Cây Thốt lốt, Thốt nốt tên khoa học: Borassus flabellifer La., thuộc Cau – Arecaceae.

1.

Hình ảnh và mô tả cây Thốt lốt, Thốt nốt – Borassus flabellifer La., thuộc Cau – Arecaceae.

Thốt nốt hay thốt lốt (Tên khoa học: Borassus flabellifer) là loài thực vật thuộc họ Cau, bản địa của Nam Á và Đông Nam Á, phân bố từ Indonesia đến Pakistan.

Mô tả: Cây to, cao 20-25m. Lá dày cứng, cuống to, có gai, phiến hình quạt, tua chẻ hai ở đầu. Cây khác gốc. Buồng đực mang nhánh chứa rất nhiều hoa nhỏ, nhị 6, nhuỵ cái lép. Buồng cái ít hoa. Hoa cái lớn hơn hoa đực. Quả bạch tròn, nâu sẫm, to 10-20cm, chứa 3 hạt hoá gỗ dẹp, có một lỗ thủng ở đỉnh. 

2.

Thông tin mô tả Dược Liệu, Thốt lốt, Thốt nốt – Borassus flabellifer La.

Bộ phận dùng: Cuống của cụm hoa, rễ, dịch cây – Pedunculus, Radix et Jus Borassi Flabellifris.

Nơi sống và thu hái: Loài cổ nhiệt đới mọc hoang và được trồng nhiều ở Ấn Độ, Campuchia và các tỉnh đồng bằng Nam bộ Việt Nam. Có thể thu hái các bộ phận của cây quanh năm.

Thành phần hóa học: Nhân của hạch có galactomannan.

Tính vị, tác dụng: Rễ cây có vị hơi ngọt, tính bình; có tác dụng giải nhiệt, hồi phục sức, cây non lợi tiểu, tiêu viêm. Dịch cây lợi tiểu, kích thích và tiêu viêm. Thịt quả làm nhầy và bổ dưỡng. Cuống cụm hoa có tác dụng lợi tiểu, trừ giun.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Cụm hoa non, cắt cho ra nhựa non chứa nhiều đường dùng làm đường Thốt lốt, cho lên men là rượu có vị thơm, ngọt dịu, chứa nhiều loại vitamin B. Thịt quả cho bột ngon, thường dùng ăn tươi.

Ở Ấn Độ, dịch cây dùng chữa các loại viêm nhiễm và phù thũng.

Ở Capuchia, nhân …

Chi tiết thông tin cho Cây dược liệu cây Thốt lốt, Thốt nốt – Borassus flabellifer La | Y Dược Học Việt Nam…

Thốt nốt hay thốt lốt – Borassus flabellifer

Thốt nốt hay thốt lốt (danh pháp khoa học hai phần: Borassus flabellifer) là loài thực vật thuộc thuộc chi Thốt Nốt, hoặc Thốt Lốt (Borassus), thuộc họ Cau, bản địa của Nam Á và Đông Nam Á, từ Indonesia đến Pakistan.

Chi Thốt Nốt có nguồn gốc ở khu vực nhiệt đới châu Phi như Ethiopia, Niger, Nigeria, miền bắc Togo, Senegal v.v, Nam Á và New Guinea.

Chúng là các loại cây thân cau / dừa cao thẳng đứng, có thể cao tới 30 m. Lá dài, hình chân vịt, dài 2 – 3 m. Các lá chét dài 0,6-1,2 m. Cuống lá (mo) mở rộng. Hoa nhỏ, mọc thành cụm dày dặc, thuộc loại đơn tính khác gốc. Hoa đực nhỏ, có 3 lá đài, 3 cánh rời xếp lợp, 6 nhị ngắn, bao phấn 2 ô. Hoa cái to, gốc có lá bắc, đài và tràng rời, bầu hình cầu, có 3 – 4 ô, 3 đầu nhị cong. Quả lớn màu nâu hoặc nâu hạt dẻ hình dạng hơi tròn với 3 hạch, hạt thuôn chia 3 chùy ở đỉnh. Tại Việt Nam mọc và được trồng ở các tỉnh khu vực Nam Bộ giáp với Campuchia. Tên gọi thốt nốt trong tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Khmer th’not. Đây là loài cây biểu tượng không chính thức của Campuchia.

Trồng và sử dụng :

Các loài thốt nốt có tầm quan trọng kinh tế đáng kể và được trồng rộng rãi trong các khu vực nhiệt đới.

Cây thốt nốt là một trong những cây có tầm quan trọng nhất của Ấn Độ từ rất lâu, tại đây người ta sử dụng thốt nốt theo trên 800 kiểu khác nhau. Lá của nó được dùng làm mái che, thảm, giỏ, quạt, mũ, ô dù, cũng như làm vật liệu như giấy để viết.

Các lá với kích thước, hình dạng và kết cấu phù hợp, không quá già không quá non được chọn. Sau đó đem luộc với nước muối và bột nghệ. Đây là công đoạn bảo quản. Các lá này sau đó được sấy khô. Khi chúng đủ khô, mặt lá được đánh bóng bằng đá bọt và cắt ra theo các kích cỡ thích hợp. Tại một góc người ta đục lỗ. Từ mỗi lá có thể làm ra 4 trang. Việc viết trên loại “giấy” này cần dùng bút châm. Lối viết là dạng chữ thảo và nối liền với nhau. Các lá sau đó được buộc lại với nhau thành các thếp.

Các cuống (bẹ) lá cũng có thể dùng làm hàng rào và có thể lấy ra sợi rắn chắc phù hợp cho việc làm thừng, chão hay…

Chi tiết thông tin cho Thốt nốt hay thốt lốt – Borassus flabellifer…

Thốt nốt – Wikipedia tiếng Việt

Thốt nốt hay thốt lốt (danh pháp hai phần: Borassus flabellifer) là loài thực vật thuộc họ Cau, bản địa của Nam ÁĐông Nam Á, phân bố từ Indonesia đến Pakistan.

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Thốt nốt là cây thân thẳng, tuổi thọ có thể trên 100 năm và có thể vươn cao 30 m. Cây có một vòm lá vươn rộng 3 mét theo chiều ngang. Thân cây to, trông giống thân cây dừa, được bao quanh bởi các sẹo lá. Cụm hoa là những bông mo, mang hoa đơn tính khác gốc. Thốt nốt cho từ 50 đến 60 quả/cây.

Thốt nốt có khả năng chịu khô hạn, ngập nước, ưa nắng nhưng không chịu rét. Thốt nốt non ban đầu sinh trưởng chậm, về sau mọc nhanh hơn.

Theo sách Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức thì cây này còn có tên là bối đa. Ông viết như sau:[1]

Cây bối đa giống như cây bồ quỳ (cây gồi) mà to hơn, cao vót không cành, ngọn mọc quanh tròn như cái lọng tỏa ra xung quanh, thân lớn có ba cạnh, ở cạnh ấy chấm nhỏ mọc ra, lá mọc đối nhau, suốt bốn mùa không rụng. Thân lớn dùng làm cung tên, nhánh nhỏ dùng làm dây thừng, lá già để đan từng tấm dùng che mưa gió, lá non tước ra làm buồm, chiếu, dùng trong cả nước. Lại người Cao Miên lấy lá già để viết giấy tờ có thể để lâu được.

Công năng[sửa | sửa mã nguồn]

Quả[sửa | sửa mã nguồn]

Quả có đường kính 10,2 – 17,8 cm, vỏ đen, chia thành 3 hoặc 4múi. Mỗi múi to gấp hai hay ba lần múi mít, trắng ngần, mềm, ngọt mát và thơm hơn cùi dừa non.[2] Phần cùi này được bao bọc trong một lớp vỏ lụa màu nâu vàng.

Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Khi cây ra hoa, vào chiều và tối, người ta buộc ống vào đầu cụm hoa, sau khi cắt một đoạn đầu hoa bằng đốt ngón tay, để qua đêm thu được chừng 1 lít nước. Thứ nước thu được trước buổi sáng có vị ngọt mát; thứ nước thu được vào buổi tối hoặc để lên men sẽ bị chua, được người dân ở vùng duyên hải Maharashtra, Ấn Độ dùng như một loại đồ uống có cồn.

Nước thốt nốt khi thắng lên sẽ cho ra đường thốt nốt có vị ngọt dịu.

Mầm[sửa | sửa mã nguồn]

Ở các bang Tamil NaduAndhra Pradesh, Ấn Độ, và ở Jaffna, Sri Lanka, người…

Chi tiết thông tin cho Thốt nốt – Wikipedia tiếng Việt…

.

Ngoài xem những thông tin về chủ đề Borassus flabellifer L- công dụng Thốt nốt, Thốt lốt này. Bạn có thể xem thêm nhiều chủ đề liên quan đến dược liệu khác như Tra cứu dược liệu

Vậy là chúng tôi đã cập nhật những thông tin mới nhất nhất, được đánh giá cao nhất về Borassus flabellifer L- công dụng Thốt nốt, Thốt lốt trong thời gian qua, hy vọng những thông tin này hữu ích cho bạn.

Cảm ơn bạn đã ghé thăm. Bạn có thể vào mục các bài thuốc đông y từ những dược liệu quý trong việc phòng & chữa bệnh mọc tự nhiên ngay trong vườn nhà mà đôi khi chúng ta không hay biết.