Cây táo mèo hay còn gọi là Chua chát, Táo rừng, Sơn tra Việt Nam có tên khoa học là: Docynia indica (Wall.) Decne. Táo mèo có vị chua chát, tính ấm; có tác dụng kiện vị, tiêu thực. Quả có vị chua chát, ăn được. Cũng được dùng làm thuốc kích thích tiêu hoá, làm ăn ngon, dễ tiêu.

Cây táo mèo 1

Cây Táo Mèo

A. Mô tả Cây Táo Mèo

  • Cây nhỡ cao 5m, nhánh và thân non có gai và lá có phiến có thùy. Lá ở nhánh già không có thùy, thon, dài 7-10cm, đầy lông lúc non, mép có răng nhỏ, gân phụ 6-10 cặp; lá kèm mau rụng. Tán 1-3 hoa, cuống ngắn; đài đầy lông trắng, mịn, phiến nhọn; cánh hoa to 10x5mm, mỏng, không lông; nhị ngắn; vòi nhụy 5, dính nhau, bầu nhiều noãn. Quả thịt, tròn hay hình trứng, vàng vàng to 5cm, vỏ quả trong cứng.
  • Ra hoa tháng 2-4, quả tháng 7 trở đi.
Có thể bạn quan tâm đến:   Công dụng và cách dùng dược liệu: Bùng bục

B. Bộ phận dùng Cây Táo Mèo

Quả – Fructus Docyniae Indicae.

C. Nơi sống và thu hái Cây Táo Mèo

Loài phân bố ở Xích Kim, Khasia, Mianma, Thái Lan, bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc. Ở nước ta, cây mọc hoang trong rừng núi cao giữa 1500 và 2000m ở Lai Châu, Lào Cai, Nghĩa Lộ, Sơn La. Cây được trồng nhiều lấy quả. Thu hái vào mùa thu, thái mỏng phơi khô.

D. Tính vị, tác dụng Cây Táo Mèo

Vị chua chát, tính ấm; có tác dụng kiện vị, tiêu thực. Quả có vị chua chát, ăn được. Cũng được dùng làm thuốc kích thích tiêu hoá, làm ăn ngon, dễ tiêu. Ngày dùng 5-10g sắc hoặc nấu cao uống.

Ghi chú

Còn một loài khác là táo mèo Delavay – Docynia delavayi (Franch.) Schneid., có phân bố ở Vân Nam (Trung Quốc) có tên là Dĩ y, có lẽ cũng có ở Bắc Việt Nam. Loài này khác loài trên bởi lá già vẫn có lông tơ ở mặt dưới, mép lá nguyên và lá tồn tại chứ không rụng. Quả cũng được sử dụng làm thuốc trị cước khí, thấp thũng và phong thấp tê đau.

Có thể bạn quan tâm đến:   Xạ đen