Ngâu rừng

Ngâu rừng

1. Mô tả Ngâu rừng

  • Cây nhỏ, cao 2- 6m. Cành non mềm, có ít lông, vỏ màu xám nâu. Lá kép lông chùm lẻ, mọc so le gồm 11 – 15 lá chét thuôn – mũi mác, dài 2 – 3,5 cm, rộng 1 – 1,5cm, gốc tròn, đầu nhọn, gân lá men theo mép, nổi rõ ở hai mặt; cuống chung dài 6-12cm, có cánh.
  • Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chùm, ngắn hơn lá; hoa nhỏ màu vàng, thơm, thường đơn tính do khuyết bầu; lá bắc ngắn, có lông; đài nhẵn, ngắn hơn tràng, 5 răng có lông ở mép; tràng 5 cánh nhẵn, khum; nhị 5, bao phấn có 4 ô; bầu rất nhỏ, có lông.
  • Quả hình trứng, nhẵn, có một hạt, dài 1 – 1,2cm; hạt màu nâu.
  • Mùa hoa quả: tháng 12-2.
  • Tránh nhầm với loài ngâu dại, có 5 lá chét to; hoa cũng vàng thơm, rất giống loài trên.
Có thể bạn quan tâm đến:   Công dụng và cách dùng dược liệu: Thanh đại

2. Phân bố, sinh thái Ngâu rừng

Aglaia Lour. là một chi lớn khoảng 39 loài ở Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân, 1997). Loài ngâu rừng hiện chưa rõ nguồn gốc phát sinh, song về phân bố đã ghi nhận được ở Đông Dương, Thái Lan và có thể cả một số nước khác trong vùng Đông – Nam Á. Ở Việt Nam, ngâu rừng phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía nam. Cây ưa sáng, có thể hơi chịu bóng, thường mọc ở kiểu rừng thưa, rừng thứ sinh và đôi khi ở ven rừng nguyên sinh ẩm. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, nhất là ở những cây được chiếu sáng nhiều, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt và sau khi chặt có khả năng tái sinh cây chồi khỏe.

3. Bộ phận dùng Ngâu rừng

Rễ, lá, thu hái quanh năm, phơi khô.

Có thể bạn quan tâm đến:   Công dụng và cách dùng dược liệu: Bông tai

4. Công dụng Ngâu rừng

Theo kinh nghiệm nhân dân, ngâu rừng được dùng để chữa sốt rét. Ngày uống 20-30g. Dạng nước sắc. Dùng riêng hoặc phối hợp với rễ xoan rừng, rễ cây na với liều lượng bằng nhau.