Thạch quyết minh 1

Hình ảnh thạch quyết minh 

A. Mô tả con vật Thạch quyết minh

  • Bào ngư là một loại ốc có một vỏ cứng như vỏ con sò, nhưng dẹt hơn, ở mép có 7 đến 13 lỗ nhỏ để không khí ra vào. Khi vỏ con bào ngư bị sinh vật khác bám kín trên hàng lỗ đó thì con vật có thể chết ngạt.
  • Lớp vỏ ngoài nhám, có màu sẫm, mặt trong có lớp xà cừ lóng lánh.
  • Chân bào ngư là một khối thịt dính liền với thân, nằm xung quanh mép vỏ. Muốn bò đi, khối thịt phải co giãn để di chuyển thân mình. Khi bị ta bắt, thì khối thịt đó rút vào trong vỏ. Chân bào ngư bao giờ cũng bám chắc vào đá, nhờ đó mà vùng bào ngư sống tuy luôn có sóng lớn vỗ vào đá, nhưng bào ngư vẫn sống bình thường.
  • Thức ăn chính của bào ngư là rong rêu bám trên đá.

B. Phân bố, thu bắt và chế biến Thạch quyết minh

  • Bào ngư thường sống ở các vùng hải đảo hay ven biển có rạn đá ngầm, độ mặn của nước biển cao. Bào ngư sống ở độ nước sâu từ 2 đến 12m, thường lúc còn nhỏ ở chỗ cạn, khi lớn lên mới ở độ nước sâu hơn. Đáy nơi đó phải có nhiều đá sỏi, trên mặt đá có phủ một lớp bùn mịn.
  • Tại miền bắc nước ta, bào ngư được khai thác tại các đảo Bạch Long Vĩ, Cô Tô, Cát Bà và chân núi đèo ngang (Quảng Bình), nhiều nhất là Bạch Long Vĩ và Cô Tô. Khả năng có thể thu hoạch tới 47 tấn (Bạch Long Vĩ).
  • Hiện nay người ta còn bắt bào ngư sống tự nhiên, nhưng gần đây đã có nơi bắt đầu nuôi để đảm bảo nguồn cung cấp thường xuyên.
  • Mùa sinh để ở miền bắc nước ta vào tháng 1-2, mùa bắt bào ngư vào tháng 7-10 là thời kỳ nước ấm để lặn và cũng là lúc bào ngư béo nhất.
  • Khi bắt về, rửa sạch đất cát, rêu rong bám vào, sau đó rửa bằng nước muối pha loãng, cuối cũng cậy bỏ riêng phơi khô dùng để làm thuốc, còn ruột đem nấu chín phơi khô bán riêng làm món ăn rất quý.
  • Có nơi, bào ngư bắt về đem rửa sạch, rồi cho nấu chín bóc lấy vỏ và ruột, vỏ sau khi lấy được phải đem luộc lại cho sạch chất muối rồi mới phơi khô. Phương pháp cậy bào ngư tươi tuy có khó khăn hơn nấu chín rồi mới cậy, nhưng vỏ có màu sắc óng ánh, phẩm chất tốt hơn.
  • Khi dùng vỏ làm thuốc, có khi người ta dùng sống: Rửa sạch, phơi khô, tán nhỏ, có khi người ta nung lên rồi mới tán nhỏ để dùng.

C. Thành phần hóa học Thạch quyết minh

  • Trong vỏ có các chất vô cơ, chủ yếu là canxi cacbonat, muối canxi khác và các chất hữu cơ, nhưng sau khi nung, chỉ còn chất vô cơ.
  • Trong thịt (bào ngư) có 73% nước, 24,58% protit, 0,44% chất béo, 1,98% tro.

D. Công dụng và liều dùng Thạch quyết minh

  • Theo tài liệu cổ thạch quyết minh có vị mặn, tính bình, vào 2 kinh can và phế. Có tác dụng bình can, tiềm dương, trừ nhiệt sáng mắt, thông lâm. Dùng chữa đầu choáng mắt hoa, xương đau nhức, thong manh mờ mắt.
  • Hiện nay, thạch quyết minh là một vị thuốc được dùng trong phạm vi nhân dân làm thuốc chữa thong manh, thị lực kém, có tác dụng tan màng, sáng mắt.
  • Còn được dùng làm thuốc chữa bệnh đau dạ dày thừa nước chua, cầm máu.
  • Liều dùng: Ngày uống 3-6g dưới dạng bột, có khi dùng dưới dạng thuốc sắc với liều 15-30g.
  • Thịt bào ngư là một loại hải sản quý, mùi vị thơm ngon, nhiều chất dinh dưỡng. Dùng trong nước và xuất khẩu.

E. Đơn thuốc có thạch quyết minh Thạch quyết minh

  1. Chữa thong manh, quáng gà:  Thạch quyết minh cạo sạch vỏ đen ngoài, tán nhỏ và thủy phi 10g. Dùng gan lợn hay gan dê bổ đôi, cho thuốc vào. Đun sôi chín, để xông vào mắt. Khi đã nguội, ăn cả gan, uống cả nước. Mỗi ngày 1 lần (đơn thuốc kinh nghiệm trong nhân dân).
  2. Đau mắt ra nắng bị chói: Thạch quyết minh, cúc hoa, cam thảo mỗi vị 4g. Sắc với 200g nước, để nguội, uống hàng ngày.
Có thể bạn quan tâm đến:   Công dụng và cách dùng dược liệu: Ba chạc