Bông tên khoa học là: Gossypium barbadense L. Theo y văn cổ, hạt bông chữa lòi dom, bạch đới, phụ nữ kinh nguyệt quá nhiều, ít sữa. Sau khi đẻ. Vỏ rễ và rễ bông chữa ho, hen suyễn, rối loạn kinh ոցuyệt, khi hư, sa tử cung.

Tên tiếng việt: Bông

Tên khoa học: Gossypium barbadense L.

Tên khác: Bông hải đảo, bông vải.

Họ: Bông (Malvaceae).

1. Mô tả Bông

  • Cây bụi nhỏ, cao 2 – 3m. Thân cành có lông, màu tím, điểm chấm đen. Lá mọc so le, hình tim rộng, 3 – 5 thùy hình trứng hoặc bầu dục, thùy giữa dài, thùy bên to.
  • Hoa màu vàng nhạt, cuống hoa có tuyến màu đen. tiểu đài có 5 lá bắc hoặc nhiều hơn, hình trứng rộng. dài hình chén, Có tuyến, tràng dài hơn tiểu đài.
  • Quả nang, hình bầu dục, hạt hình trứng nhọn, màu vàng nhạt, sợi trắng rất dễ rụng. Mùa hoa quả: tháng 6 – 10.

Cây Có Công dụng tương tự.

  • Bông cỏ có 2 loài là Gossypium herbaceum L. Và Gossypium arboreum
  • Bông luổi – Gossypium hirsutum L. Những loài này có dáng cây nhỏ hơn.

2. Phân bố, sinh thái Bông

  • Chi Gossypium L. gồm một số loài hầu hết là cây bụi, thường sống một năm. Từ xa xưa, loài người đã biết đến một số đại diện của chi này bởi giá trị của những sợi bông trong quả, dùng để dệt thành vải. Do tầm quan trọng đặc biệt, cây bông đã được thuần hóa và đưa vào trồng trọt từ hàng ngàn năm nay. Các giống bông đang được trồng hiện nay là kế quả chọn lọc, lai ghép để cho phẩm chất sợi tốt nhất. Thuận lợi cho việc cơ giới hóa trong chăm sóc và thu hoạch.
  • Bông là loại cây ưa sáng và có khả năng chịu hạn cao. Cây thích nghi với điều kiện khí hậu hơi khô hạn của vùng nhiệt đới và á nhiệt đới ở châu Á, châu Phi νà Châu Mỹ. Ở Việt Nam, bông được trồng nhiều nhất ở vùng Bình Thuận, Ninh Thuận và Đồng Nai. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 đến 24°C. Lượng mưa thấp, khoảng 1500mm/năm. Ở Sơn La, Lai Châu và Hòa Bình, đồng bào Thái vẫn còn trồng những giống bông địa phương. So với các giống bông trồng ở miền Nam, giống bông ở Tây Bắc tỏ ra thích nghi tốt hơn trong điều kiện khí hậu ẩm ướt hơn.

3. Bộ phận dùng: Bông

  • Rễ thu hoạch vào mùa thu, đào về, bóc vỏ, phơi khô, các sợi bông quanh hạt. Hạt đã tách các sợi bông.

4. Thành phần hóa học Bông

  • Dầu ép từ hạt bông với tỷ lệ 15% sau khi Ioại bỏ gossypol được dùng làm dầu ăn, Công nghiệp đồ hộp. xà phòng. Thành phần dầu gồm các acid béo chưa no (acid oleic 40-50%. Linoleic 25 – 30%), các acid béo no (acid palmatic, Stearic 20 – 25%). Trong khô dầu hạt bông có các flavonoid là các glucosid của quercetol và kaempferol, và 1 sắc tố màu đỏ gossypol. Gossypol là chất độc, một polyphenol có nhóm chức aldehyd với liều cao gây độc với thần kinh và tế bào. Gossypol, dễ bị phân hủy bởi nhiệt nên dễ bị loại ra khỏi dầu hạt bông nhờ nhiệt độ.
  • Vỏ rễ bông chứa gossypol (1 – 2%). Cây càng lâu năm có hàm lượng gossypol càng nhiều. Ngoài ra, còn có vitamin E, catechin và một chất gây co mạch, thúc đẻ. Hoa chứa nhiều flavonoid sợi bông gồm 90% Celulose.

5. Tác dụng dược lý Bông

Hạt bông

  • Tác dụng cai đẻ: Hạt bông và chất gossypol chiết tách từ hạt bông có tác dụng cai đẻ trên động vật giốոg đực và nam giới, Trên chuột cống đực, bột hạt bông trộn vào thức ăn dùng hàng ngày, dầu thô hạt bông cho uống qua dạ dày với liều 0,5ml/mỗi chuột. Gossypol dùng với liều 2,5mg/mỗi chuột, liên tục trong 30 – 60 ngày có tác dụng chống sinh đẻ rõ rệt. Gossypol là thành phần có tác dụng. Sau khi dùng thuốc, tinh trùng hoàn toàn không hoạt động và có biến dạng, tác dụng diệt tinh trùng xuất hiện từ từ, phải dùng thuốc ít nhất là 3 tuần lễ mới xuất hiện tác dụng và Sau khi ngừng thuốc, khả năng sinh để lại hồi phục.
  • Trên chuột cống cái với liều 25,4mg/kg dùng liên Lục trong 20 ngày, theo dõi trên phiến đồ âm đạo không thấy có ảnh hưởng gì.
  • Đối với nam giới đã trưởng thành, mỗi ngày uống 15mg gossypol, liên tục trong vòng 15 – 90 ngày, các tế bào sinh tinh đều bị ảnh hưởng, tinh trùոg khôոց hoạt động, giảm dần về số lượng và dần dần biến mất trong tinh dịch.
  • Do thuốc có độ độc cao, nên gossypol chưa thể sử dụng làm thuốc Cai đẻ trên lâm sàng.

Rễ và vỏ rễ cây bông

  • Vỏ rễ cây bông có tác dụng tăng cường co bóp tử cung. Ở Liên Xô trước đây, vỏ rễ cây bông được dùng làm thuốc cầm máu tử cung.
  • Trên chuột nhắt trắng với mô hình gây ho bằng phun xông amoniac, nước sắc vỏ rễ cây bông có tác dụng giảm ho rõ rệt. Phần nhựa chiết tách từ vỏ rễ thí nghiệm trên chuột nhắt trắng có tác dụng long đờm,
  • Nước sắc và các dạng chiết từ vỏ rễ bông đều có tác dụng ức chế phế cầu khuẩn và liên cầu khuẩn. Rễ cây bông được chứng minh có tác dụng lợi tiểu, gây se,хоắn.

6. Tính vị, công năng Bông

  • Hạt bông có vị cay, nóng, có tác dụng ôn thận, bổ hư nhược, chỉ huyết (cầm máu), có độc khi dùng phải cẩn thận.
  • Rễ và vỏ rễ có tác dụng bố hư nhược, bình suyễn, điều kinh.

7. Công dụng Bông

  • Theo y văn cổ, hạt bông chữa lòi dom, bạch đới, phụ nữ kinh nguyệt quá nhiều, ít sữa sau khi đẻ.
  • Vỏ rễ và rễ bông chữa ho, hen suyễn, rối loạn kinh ոցuyệt, khi hư, sa tử cung
  • Liều dùng: Hạt bông: 3 – 5g/nցày, rễ bôոց: 5 – 10g/ngày.
  • Lá bông chữa lỵ dưới dạng nước ép. Vỏ quả bông chữa nấc, sắc nước uống như chè.

8. Bài thuốc có bông

  • Chữa khí hư, bạch đới:  Hạt bông, phúc bồn tử, hương phụ sao giấm, gương sen đốt thành than (mỗi thứ 30g), nghiền thành bột mịn, mỗi lần uống 6 – 9g với rượu.
  • Thuốc lợi sữa: Hạt bông sao vàng (5g), cam thảo (2g), nước 600ml, sắc còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày.Trước đây, Nhật Bản có sản xuất một biệt dược lợi sữa chế từ hạt bông với tên Lactaogol.
  • Chữa rối loạn kinh nguyệt: Vỏ rễ cây bông (5g), nước 300ml sắc còn 100ml. Սống trong ngày.
  • Chữa sa tử cung: Rễ cây bông (10g), Chỉ xác tươi (12g), Sắc nước uống, chia làm 2 lần trong ngày.

Có thể bạn quan tâm đến:   Công dụng và cách dùng dược liệu: Dây quai bị