Tên tiếng Việt: Cá chép, Cá gáy

Tên khoa học: Cyprinus carpio L.

Họ: Cá chép (Cyprinidae).

Công dụng: Cá chép có vị ngọt, tính bình, có tác dụng lợi niệu, hạ khí, tiêu thũng, an thai, thông sữa, giảm ho suyễn. Vảy cá tính bình, cầm máu.

1. Mô tả Cá chép

Thân dẹt, đầu và phần đuôi thuôn, vảy to và tròn, lưng hơi gù, miệng rộng, hơi hướng lên, mép có râu. Vây lưng có xương gai cứng, vây hậu môn có răng cưa, vây đuôi có 2 thùy nhọn xiên bằng nhau, đôi khi màu đỏ. Cá có kích thước trung bình dài 30- 50cm, nặng 1-2kg, con to có thể dài đến 1m, nặng hơn 10kg. Lưng màu thẫm (thường lục xám đen hay đỏ tím đen), bụng trắng.

2. Phân bố, sinh thái Cá chép

Cá nước ngọt được nuôi phổ biến ở ao, hồ, ruộng trũng khắp các vùng địa lý châu Á, châu Âu, châu Phi. Có nhiều biến dị do những môi trường sống khác nhau như hình dạng, kích thước, bộ vảy và màu sắc. ăn động vật không xương sống, sinh vật phù du và thực vật thuỷ sinh. Mùa sinh sản chính vào tháng 2- 4. Người ta đánh bắt chủ yếu vào tháng 7-11. Tránh mùa sinh đẻ.

3. Bộ phận dùng: Cá chép

Cá chép được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là lý ngư. Thịt cá, vảy cá và mật cá được sử dụng.

4. Thành phần hóa học Cá chép

Thịt cá chép có 16% protid, 3,6- 5,6% lipid (trong đó có 0,3% acid béo omega – 3), 0,9 mg% sắt, 17mg% Ca, 184 mg% p, 12mg% Mg, 181mcg% vitamin A, 0,018mg% B, 0,04mg% B2, 0,17mg% Ba… Vảy cá chứa collagen. Mật cá có sắc tố mật, acid mật và sterol.

5. Tính vị, công năng Thịt Cá chép

Cá chép có vị ngọt, tính bình, có tác dụng lợi niệu, hạ khí, tiêu thũng, an thai, thông sữa, giảm ho suyễn. Vảy cá tính bình, cầm máu. Mật cá có vị đắng, tính lạnh, không độc, có tác dụng thông ứ, minh mục.

6. Công dụng Cá chép

  • Theo kinh nghiệm dân gian, thịt cá chép nấu với lá bìm bìm non, ăn hàng ngày chữa phù thũng ở trẻ nhỏ (cam thũng). Dùng đến khi đái được nhiều và thấy nhẹ mặt. Có thể dùng cá giếc hay cá quả thay thế. Cá chép (1 con) nấu với hoàng kỳ (60g) ăn trị bí đái. Người cao tuổi dùng rất tốt. Để chữa phù nề, vàng da ở phụ nữ có mang, lấy thịt cá chép (1 con) nấu thật nhừ với hạt đậu đỏ (100g) và trần bì (10g). Cá chép loại đuôi đỏ (600g) mổ bỏ ruột, nhồi vào bụng 20g phèn chua nghiền nhỏ, rồi bọc giấy, trát bùn, đem nướng chín; sau đó, bỏ bùn, gỡ lấy thịt cá, nấu cháo ăn hết trong một ngày lại chữa thũng trướng. Cháo gạo nếp nấu với một con cá chép và 1 lạng a giao, ăn trong 3 ngày làm thuốc an thai (Thầy thuốc ưu tú, lương y Lê Trần Đức). Cá chép (1 con) đánh vảy, bọc đất sét, nướng chín; bò đất, gỡ thịt cá nấu cháo ăn vào lúc đói ngày một lần, chữa viêm khí quản cấp tính (Tài liệu nước ngoài).
  • Cá chép đốt tồn tính, tán bột mịn, uống mỗi lần 10g, ngày 2 lần, là thuốc thông sữa, bổ huyết. Phụ nữ còn thường truyền cho nhau kinh nghiệm dùng cá chép cỡ 300- 400g luộc ăn trong thời kỳ thai nghén khoảng 1-3 tháng để cho dễ đẻ và có những đứa con khoẻ mạnh, thông minh, da dẻ hồng hào.
  • Mật cá chép (1 cái) phối hợp với gan gà trống (1 cái) nghiền nát, ngâm với 500 ml rượu trắng trong 5- 7 ngày, càng lâu càng tốt, thỉnh thoảng lắc đều. Ngày uống 2 lần mỗi lần 30 ml chữa liệt dương. Cũng với công dụng trên, có thể lấy mật cá chép (1 cái), trứng chim sẻ (1 quả) và mật gà trống (1 cái) làm viên uống. Mật cá chép và đất lòng bếp (lượng bằng nhau), trộn đều, tán nhỏ nhuyễn, bôi vào cổ chữa trẻ con bị tắc họng, không nuốt được (Nam dược thần hiệu).
  • Vảy cá chép (nửa bát) rang cháy đen cùng với lá ngải cứu và rễ cây gai (mỗi thứ 1 nắm) nghiền nát, sắc với 400 ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày. Dùng 3 ngày. Chữa rong kinh, rong huyết khi có thai.
  • Theo tài liệu nước ngoài, vảy cá chép (200g) cắt nhỏ, sắc nhỏ lửa với nước rồi cô đến khi thành cao đặc. Ngày uống 40- 60g cao với rượu hâm nóng, chia làm 2 lần. Chữa chảy máu tử cung. Để chữa hóc xương cá, lấy 36 cái vảy ở lưng cá chép, sao vàng, tán bột mịn, uống với nước lạnh. Thịt cá chép nấu với ngó sen lại là món ăn – vị thuốc bổ huyết, ích thận, kiện tỳ.
Có thể bạn quan tâm đến:   Công dụng và cách dùng dược liệu: Sổ Bà